Tác phẩm dự thi Cuộc thi Biến đổi khí hậu với cuộc sống năm 2018, MS 05: Du lịch miền Tây trong mùa hạn hán, nước mặn

(Cuocthi.moitruong.net.vn) – Em vẫn thường ao ước một chuyến đi miền Tây, qua những thước phim, qua những tấm hình đã gợi trong em tình yêu với mảnh đất phèn mặn ấy từ thời nhỏ, em thích ngồi thuyền chợ nổi, em muốn dạo bộ miệt vườn, em muốn ngắm nhìn chim muông cây lá. Hay đơn giản là ngắm những cánh đồng lúa trải dài miên man xanh ngát chờ ngày vàng ươm. Và, qua những lần nghe tin thời sự, em đã biết hơn về cuộc sống lam lũ chân chất của người dân miền Tây, cả đời gắn bó với nông nghiệp ruộng vườn. Những cánh đồng lúa chín vụ Đông Xuân năm 2016 đang vào độ thu hoạch, nhìn từ xa ai cũng lầm tưởng rằng chắc chắn đây sẽ là vụ mùa bội thu. Thế nhưng, phải lại gần thì nhìn kỹ những “hạt trấu vàng xẹp lép” thì người ta mới xót xa cho cả công sức mấy tháng trời chăm bón.

Lúa đông xuân Đồng bằng sông Cửu Long bị chết héo do nhiễm mặn

(Nguồn: báo Pháp luật Việt Nam)

Miền Tây, thay cho tên gọi Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – từ trước tới nay, người dân vẫn luôn quen với sự nắng nóng khô hạn và đất ngập mặn phèn chua. Với người dân 13 tỉnh thành (Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Long An và Đồng Tháp) thì điều này chẳng còn lạ lẫm. Tuy nhiên, theo thời sự đưa tin thì đầu năm 2016 là một dấu mốc thế kỷ cho người dân ĐBSCL khi hiện tượng  hạn hán và nước mặn xâm lấn ở mức nghiêm trọng nhất trong gần 100 năm qua, gây khốn đốn cục bộ. “ĐBSCL xuống giống 1426,3 nghìn ha, năng suất lúa năm 2016 đạt 67,2 tạ/ha, giảm 4 tạ/ha so với vụ đông xuân 2015; sản lượng đạt 10,4 triệu tấn, giảm 700 nghìn tấn. Theo ước tính sơ bộ, diện tích lúa bị thiệt hại trên 70% sản lượng của cả vùng là 142,6 nghìn ha, chiếm 9,2% diện tích gieo cấy; bị thiệt hại từ 50%-70% sản lượng là 65,8 nghìn ha, chiếm 4,2%; bị thiệt hại từ 30%-50% sản lượng là 952 ha, chiếm 0,1%. Một số địa phương có sản lượng lúa đông xuân giảm nhiều so với năm trước: Kiên Giang giảm 312 nghìn tấn; Trà Vinh giảm 169 nghìn tấn; Long An giảm 105 nghìn tấn; Bến Tre giảm 86 nghìn tấn; Hậu Giang giảm 67 nghìn tấn. Thêm nữa, hạn hán và xâm nhập mặn khiến gần 226.605 hộ dân trong vùng bị thiếu nước ngọt sinh hoạt, trên tổng số dân ĐBSCL tính đến năm 2016 là 17.660,7 người.” Tức là cứ khoảng 78 người sẽ có 1 người không có nước sinh hoạt. (Theo Tổng cục thống kê, 2016). Những con số khiến người ta nao lòng, thương xót, một người Hà Nội như em càng thêm thương miền Tây nhiều hơn nữa.

Xâm nhập mặn vùng ĐBSCL (Nguồn: Viện Khoa học thủy lợi miền Nam)

Hiện tượng hạn hán và ngập mặn ở ĐBSCL từ xưa tới nay không có gì lạ, bởi nó diễn ra hằng năm hoặc theo chu kỳ, và người dân cũng “quen” với kiểu thời tiết như vậy. Thế nhưng, những số liệu năm 2016 bắt buộc chúng ta phải quan tâm, phải tìm hiểu nguyên nhân để từ đó đưa ra được xu hướng giải pháp toàn diện và hiệu quả. Trên thực tế, hạn hán và xâm nhập mặn là một trong những biểu hiện của biến đổi khí hậu toàn cầu- cụm từ được nhắc đến thường xuyên, thể hiện sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển. Một cách dễ hình dung về hiện tượng xâm nhập mặn: khi nhiệt độ môi trường cao, nước bốc hơi mạnh gây hạn hán, đất khô nứt nẻ và “háo nước”. Điều này tạo điều kiện cho nước biển “ăn” sâu vào đất liền theo 3 cách chủ yếu: đường sông, cơ chế thẩm thấu, cơ chế tiềm sinh.

Thứ nhất, vì ĐBSCL có mạng lưới sông ngòi kênh rạch chằng chịt, nên xâm nhập mặn theo đường sông rất dễ dàng, diễn ra hằng năm nên có thể dự báo. Mùa khô kéo dài (giữa tháng 11 và kết thúc vào khoảng cuối tháng 4), nước ở sông và kênh rạch thiếu hụt, tạo thành đường đi cho nước biển tấn công vào đất liền. Hình thức này thường gây ảnh hưởng lớn tới vùng đồng bằng và đất liền sâu trong lục địa.

 Thứ hai, xâm nhập mặn theo cơ chế thẩm thấu, tác động mạnh tới các vùng đất ven biển có cấu tạo địa chất là những cồn cát lớn, bùn phù sa lấp đầy ở dạng mềm, chứa đựng nhiều thấu kính cát có khả năng mao dẫn (hiện tượng chất lỏng tự dâng lên cao trong vùng không gian hẹp mà không cần ngoại lực, thậm chí ngược hướng với trọng lực), tạo điều kiện cho nước biển xâm nhập vào đất liền.

Thứ ba, xâm nhập mặn theo cơ chế tiềm sinh. Tại những nơi là vùng sình lầy (thường là ven biển), trong quá trình khai hoang lấn biển biến thành vùng ngọt hóa để trồng lúa, đất và keo sét của vùng này giữ hàm lượng muối nhất định. Khi đắp đê, vùng sình lầy sẽ bị tù hóa, chuyển từ môi trường có mặn tiềm sinh thành môi trường bị oxy hóa. Như vậy, lượng muối vẫn tồn tại đã chuyển sang bốc hơi lên bề mặt.

Vùng màu đỏ trong hình chụp từ vệ tinh chỉ ra vùng nước biển nóng hơn bình thường. (Nguồn: NOAA)

Giờ đây, ta nhận thấy có nhiều mối liên quan giữa hạn hán- xâm nhập mặn với nhiệt độ, nước, và đất. Đối với từng vùng, xâm nhập mặn có thể diễn ra theo một hoặc cả ba cơ chế trên, và mức độ ảnh hưởng có sự khác nhau. ĐBSCL có hệ thống cửa sông hình phễu rộng nên xâm nhập mặn càng mạnh mẽ hơn tại các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau. Rõ ràng, nhiệt độ cao kéo dài sẽ gây ra hạn hán, và hạn hán thúc đẩy quá trình xâm nhập mặn. Tuy nhiên, có một một điều nữa mà chúng ta chưa nhắc tới, nguyên nhân do đâu sinh ra hạn hán? Đó là hiện tượng El nino, tên gọi thể hiện sự phá vỡ mối quan hệ bình thường của hệ thống đại dương- khí quyển ở vùng nhiệt đới Thái Bình Dương. Đó là khi xuất hiện các dòng hải lưu ấm gây nên sự nóng lên bất thường của vùng biển này. Vào tháng 7/2015, nhiệt độ tại một khu vực trung tâm đã cao hơn mức trung bình 2 độ C. Năm 2015 là thời gian El nino hoành hành ở mức kỷ lục kể từ năm 1950. Theo CNN- mạng truyền hình cáp Hoa Kỳ, châu Á là nơi hứng chịu tác động nặng nề nhất của hiện tượng El Nino với những đợt nắng nóng gây chết người. El nino ở Việt Nam khiến mùa đông ít lạnh, hoặc nóng hơn bất thường và mùa khô. Hạn hán đầu năm 2016 ở ĐBSCL là một ví dụ bởi lượng nước sông Mê Kông thiếu hụt so với trung bình từ 30-40%, thậm chí 80%.

Xét về góc độ tiếp cận vấn đề, nắng nóng- khô cằn- đất nhiễm mặn sẽ gây khó khăn trực tiếp cho sinh hoạt sản xuất gieo trồng của bà con nông dân. Họ là những người trực tiếp cảm nhận. Và nếu tiếp cận vấn đề ở mức độ sâu, thì trách nhiệm lớn hơn thuộc về các nhà quản lý và nghiên cứu. Ở đây, có ba hướng giải quyết chính mà chúng ta cần bàn luận:

Thứ nhất, các biện pháp đơn giản ngắn hạn mà người nông dân có thể áp dụng. Hầu hết đó là những kinh nghiệm trong canh tác đã và đang được thực hiện. Các nhóm cây mía, cam, quýt, chanh,.. có thể chịu mặn 0,4%. Tuy nhiên khi độ mặn 0,2% thì không nên tưới cho cây. Vì khi tưới cây dưới điều kiện nắng nóng thì lượng muối tích trữ ở đất sẽ được hòa tan ngày càng cao và ảnh hưởng tới quá trình hấp thu nước của cây. Thay vào đó thì dùng vôi bột bón cho cây để giảm nồng độ phèn. Kinh nghiệm nữa là cày ải phơi đất vụ Đông Xuân, đợi đến đầu mùa mưa mới gieo sạ lại, khi đó nồng độ muối cũng đã giảm. Những giống cây trồng mới ưa phèn mặn cũng được nhiều bà con nông dân lai tạo, nhằm cải tiến sự thích ứng với điều kiện thực tế.

Thứ hai, các biện pháp lâu dài cần sự đầu tư đồng bộ. Từng địa phương dựa vào các số liệu về dự báo xâm nhập mặn chủ động bố trí thời vụ cho phù hợp với mùa vụ. Vùng chưa khép kín bằng hệ thống đập thủy lợi thì cần tổ chức đắp các đập tạm. Việc xây các hồ chứa ở thượng lưu và hạ lưu là rất cần thiết trong việc trữ nước. Thông thường, hồ chứa này trữ nước phục vụ cho nhu cầu thủy điện. Về mùa khô, nước sông cạn, nước từ hồ chứa được xả vào sông nhằm thay đổi ba cơ chế thẩm thấu của nước biển. Bên cạnh đó, hệ thống đập tràn cũng là một giải pháp tốt ngăn chặn nước mặn xâm nhập qua đường sông và kênh dẫn. Theo đó, khi nước biển thắng thế trong sự tương tác với sông, phần nước ngọt nhẹ hơn sẽ tràn qua đập vào hệ thống sông, phần nước mặn nặng hơn sẽ bị ngăn lại.

Thứ ba, một sinh viên chuyên ngành du lịch như em thực sự quan tâm tới việc tận dụng sự bất lợi từ hạn hán- xâm nhập mặn ở ĐBSCL để xây dựng các hoạt động du lịch, em có một số ý tưởng như sau:

Một là, Đưa các tour du lịch vào chương trình thực tế của sinh viên khối ngành du lịch trong vùng (ví dụ Đại học Cần Thơ, Đại học Đồng Tháp, Đại học An Giang,…) nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về địa lý du lịch của từng tỉnh thành. Ví dụ, du lịch khám phá vùng đất ngập mặn Cà Mau, du lịch tìm hiểu và nghiên cứu hệ sinh vật ở vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp), du lịch tìm hiểu cách người dân trồng cam, chăn dê trên những mảnh đất nhiễm mặn ở Hậu Giang. Qua mỗi chuyến đi, mỗi sinh viên sẽ có một bài tổng kết đồng thời nêu lên những yếu tố mới mà mình phát hiện ra về mảnh đất mới. Bên cạnh đó, có thể tổ chức các cuộc thi giới thiệu và thuyết trình về cách đối phó với hạn hán- xâm nhập mặn nơi quê hương mình đang sống, từ đó tạo sự kết nối và hứng thú cho mọi người.

Hai là, Xây dựng có quy hoạch các dịch vụ lưu trú cho khách du lịch. Hiện nay, ở đồng bằng sông Cửu Long cũng đã có nhiều nơi lưu trú cho khách du lịch tuy nhiên còn đơn điệu và chưa được phân loại rõ ràng. Người làm du lịch chưa thực sự chuyên nghiệp. Vì thế, điều bây giờ cần là xác định rõ ràng các khu lưu trú tương xứng với từng đối tượng khách. Hình thức ở homestay để giao lưu văn hóa với dân địa phương đang rất được ưa chuộng, nếu mô hình “homestay nổi trên mặt nước” xuất hiện thì chắc chắn sẽ thu hút nhiều người. Ngoài ra, tỉnh Bến Tre là một nơi khá lý tưởng cho việc xây dựng mô hình “farmstay Bến Tre”- nơi ở gắn với xu hướng “du lịch xanh”, thường đi kèm với các hoạt động trải nghiệm nông trại, làm vườn, chăm gia súc… bởi Bến Tre là tỉnh có lợi thế dẫn đầu khu vực về số lượng đàn bò, đứng thứ hai về heo.

Ba là, xu hướng “quảng bá du lịch hiệu ứng mặn”. Tức là lợi dụng chính thời điểm xảy ra hạn hán- xâm nhập mặn, chính lúc điều kiện trong vùng khó khăn nhất để quảng bá những điểm sáng về nguồn tài nguyên, về cuộc sống người dân, về những điều mới lạ mà thiên tai gây ra. Trên đà quan tâm về biến đổi khí hậu toàn cầu thì sự quảng bá du lịch như vậy sẽ càng được lan tỏa rộng rãi, và sức hút cũng mạnh mẽ hơn. Thông thường, hình thức này sẽ nhận được sự hưởng ứng mạnh từ những người hiếu kỳ, thích khám phá mạo hiểm, hay các nhà nghiên cứu tìm hiểu môi trường.

Nếu các biện pháp và ý tưởng được quan tâm xem xét và thực hiện một cách có kế hoạch tổ chức rõ ràng, thì em tin rằng sẽ sớm nhận được tín hiệu tốt. Các khó khăn trong cuộc sống của người dân đồng bằng sông Cửu Long không còn quá nặng nề và dần dần được tháo gỡ.

Nhìn chung, biến đổi khí hậu đang diễn biến ngầm từng giờ từng ngày. Những điều chúng ta nhìn thấy đó chính là mưa, lũ, bão, hạn hán- xâm nhập mặn. Khi thiên tai đi qua, bao tang thương để lại. Việc ngăn cản quá trình biến đổi khí hậu thì dường như chưa thể, nhưng chúng ta có thể chung tay làm giảm sự tác động của hạn- mặn. Khi cộng đồng quan tâm, mọi khó khăn sẽ được giải quyết.

Nguyễn Thị Vân – Sinh viên năm 3, Khoa Du lịch và khách sạn, Trường đại học Kinh tế quốc dân

Bài viết liên quan